Đặc điểm của các board mạch:
- Các board mạch được thiết kế dạng module, liên kết với nhau qua các jack cắm trực tiếp, nên việc thay thế dễ dàng, gọn gàng, giảm thiểu các dây nhợ lòng thòng.
- Các I/O điều khiển dùng jack cắm với đầu vít phù hợp với vít thử điện của người thợ, giúp việc lắp ráp dễ dàng. Khi thay thế cái khác lại càng dễ dàng, vì chỉ cần rút jack và cắm lại đầu jack, không cần phài nhớ thứ tự các đầu dây, ngoại trừ phần động lực.
- Bộ nguồn (PS-board) được thiết kế để hoạt động trong dãy điện áp rất rộng: từ 700Vdc đến 55Vdc. Có tác dụng hoạt động cho cả nguồn cấp 380Vac và 220Vac, đến khi mất nguồn cấp thì nó hoạt động đến 55Vdc để xả điện áp đang tích tụ trên các tụ lọc nhanh chóng về mức điện áp an toàn.
- Mạch nghịch lưu dùng IGBT rời nên việc sửa chữa sẽ dễ dàng và ít tốn kém.
- Board lái IGBT có nhiệm vụ kiểm soát việc tắt mở từng IGBT.
Để bảo vệ thật chặt IGBT, nó làm việc theo kiểu “Tiền trảm hậu tấu” tức là khi phát hiện IGBT bị quá dòng thì lập tức khoá IGBT rồi báo lỗi về khối Trung tâm điều khiển.
Thời gian thực hiện bảo vệ phải hoạt động ở cấp độ dưới 1 micro giây.
Trung tâm điều khiển nhận báo cáo lỗi thông qua ngõ vào Interrupt để không ra lệnh mở lại IGBT đó 1 lần nào nữa trước khi báo lỗi lên màn hình.
Lập trình:
- Chọn phương pháp điều chế sin 3 pha:
Hãng ATMEL có 2 tài liệu về biến đổi sin 3 pha:
AVR494: điều chế độ rộng xung tự nhiên.
AVR495: điều chế theo vector không gian.
(Các tài liệu này, các bạn có thể tìm trong web của MicroChip vì ATMEL bây giờ là của MicroChip).
Tôi chọn theo cách điều chế vector không gian vì nghe nó có vẻ ngầu hơn !
- Chọn ngôn ngữ lập trình: AVR studio 4.xxxxxx.
Tôi chọn Ngôn ngữ Assemly để lập trình cho Vi điều khiển vì:
+ Assembly có thể kiểm soát chặt chẻ thời gian thực đến từng lệnh thi hành.
+ Assembly không có quá nhiều lệnh để phải nhớ.
+ Viết assembly tốn rất ít bộ nhớ của Vi điều khiển vốn là phần cứng có rất ít bộ nhớ.
Chọn Vi điều khiển của ATMEL vì Vi điều khiển của ATMEL chạy các dòng lệnh ở mức tốc độ xung Clock, do đó, việc kiểm soát theo thời gian thực rất chính xác.
Ví dụ: Với ATmega16, chạy thạch anh 16MHz, ta có thể kiểm soát thời gian thực đến mức 1/16 micro giây.